Trong từ điển tiếng Việt thì ý nghĩa của dàn giáo hoặc giàn giáo được lý giả như sau:

- Dàn giáo: Là một kết cấu chịu lực, cấu tạo từ những thanh bằng gỗ, thép, bêtông cốt thép…, dùng làm hệ thống chịu lực chính trong xây dựng ( mái nhà, nhịp cầu.. ) và trong các kết cấu xây dựng khác.

- Giàn giáo: Toàn thể những gióng, cột , xà, ván giằng với nhau, bắc tạm cho thợ đi được trong một nhà đang làm, xây tường lên cao, lợp mái… Kết cấu bằng các thanh giằng bằng kim loại, bê tông cốt thép, gỗ hoặc vật liệu kết hợp, chịu lực của mái nhà, nhịp cầu, công trình thủy công, tên lửa…Trong lĩnh vực xây dựng, do ý nghĩa của 2 từ dàn giáo hay giàn giáo tương đồng với nhau nên việc gọi dàn giáo hay giàn giáo đều chính xác.

Thi kỳ c đi

Hơn 17.000 năm trước. Các nhà nghiên cứu cho rằng những bức tranh thời kỳ đồ đá trên trần và những bức tranh trên tường xung quanh hang động tại Lascaux, được sử dụng hệ thống dàn giáo (giàn giáo) để sơn vẽ. Người Ai Cập cổ đại , Nubia và Trung Quốc cũng được ghi nhận đã sử dụng cấu trúc dàn giáo (giàn giáo) để xây dựng nhà cao tầng. Dàn giáo sơ khai được sử dụng bằng gỗ, tre và gắn kết với nhau bằng dây.

K nguyên hin đi

Trong thời đại Victoria, nhiều loại dàn giáo (giàn giáo) đã được ra đời bởi các công ty tư nhân thời kỳ đó với những tiêu chuẩn và kích thước khác nhau. Nhưng sau đó, vào năm 1906 dàn giáo (giàn giáo) được sản xuất theo một tiêu chuẩn chung do Daniel Palmer-Jones và anh trai David sáng chế. Năm 1919 trở thành công ty SGB (dàn giáo vương quốc Anh) và hiện đang thuộc sở hữu của HARSCO.

Công tác sữa chữa trên Cung điện Buckingham năm 1913 với sự có mặt của dàn giáo xây dựng (giàn giáo xây dựng).

ăm 1923, công ty SGB  giới thiệu ống thép tròn như đường ống nước (thay vì cột gỗ) với kích thước tiêu chuẩn, cho phép các bộ phận có thể thay thế lẫn nhau và cải thiện sự ổn định cấu trúc của dàn giáo (giàn giáo). Việc sử dụng các nối chéo cũng giúp cải thiện sự ổn định, đặc biệt là trên các tòa nhà cao tầng. Vào năm 1944 công ty đưa ra thị trường hệ thống dàn giáo khung (giàn giáo khung) và được sử dụng rộng rãi cho đến thời gian sau này.

Vt liu

Các thành phần cơ bản của dàn giáo (giàn giáo) là những ống thép được hàn gắn theo tiêu chuẩn, tạo thành những khung có độ chịu lực cao, kết nối với nhau bằng giằng chéo.

Dàn giáo tre được sử dụng rộng rãi tại Hồng Kông , với dây nylon dùng buộc chặt các thanh tre lại với nhau tạo thành dàn giáo thi công . Tại Ấn Độ, được sử dụng chủ yếu là dàn giáo (giàn giáo) bằng gỗ, tre, với các mối nối với nhau được gắn kết bằng dây thừng làm từ tóc dừa (xơ dừa)

HIỆN TẠI Ở VIỆT NAM CÓ 2 CHỦNG LOẠI GIÀN GIÁO ĐƯỢC SỬ DỤNG PHỔ BIẾN NHẤT:

- Giàn giáo Khung - giàn giáo chữ H: được sử dụng vào mục đích chống đỡ, bao che, công tác hoàn thiện.

- Giàn giáo nêm - hệ giàn giáo chống Vietform: tuy ra đời sau hệ giàn giáo khung nhưng nó có nhiều ưu điểm nội trội. Được sử dụng chính vào mục đích chống đỡ kết cấu betoong.